Tầm nhìn

Đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về di sản văn hóa Hà Nam

14:49, 02 Tháng Năm 2022

(DSX)- Đó là một trong những mục tiêu của Kế hoạch thực hiện “Chương trình số hóa di sản văn hóa Việt Nam, giai đoạn 2021 - 2030” trên địa bàn tỉnh Hà Nam mới được ban hành năm 2022.

Ảnh minh họa. Nguồn: TTXVN

Theo kế hoạch, phấn đấu đến năm 2025, 100% các di tích quốc gia đặc biệt, các bảo vật quốc gia, các di sản văn hóa phi vật thể trong Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia trên địa bàn; 50% di tích quốc gia, 30% di tích cấp tỉnh được số hóa và ứng dụng trên các nên tảng số. Cùng với đó, 30% các hiện vật, bộ sưu tập hiện vật tiêu biểu lưu giữ tại các di tích và bảo tàng được số hóa và ứng dụng trên các nên tảng số; 50% người làm công tác chuyên môn trong ngành di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh được đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật các kiến thức, kỹ năng chuyển đổi số.

Mục tiêu đến năm 2030, 100% các di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh; các bảo vật quốc gia; các di sản văn hóa phi vật thể trong Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia được số hóa và ứng dụng trên các nền tảng số. Ít nhất 70% các hiện vật, bộ sưu tập hiện vật tiêu biểu lưu giữ tại các di tích và bảo tàng được số hóa và ứng dụng trên nền tảng số. 100% người làm công tác chuyên môn trong ngành di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh được đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật các kiến thức, kỹ năng chuyển đổi số.

Để thực hiện các mục tiêu trên, những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu được đưa ra theo từng giai đoạn gồm:

Giai đoạn 2021-2025: Đầu tư các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ tại Bảo tàng tỉnh phục vụ cho số hóa di sản văn hóa nhằm đảm bảo sự đồng bộ, hiện đại, chất lượng cao và tương đồng về hạ tầng kỹ thuật với các tỉnh khác trong khu vực và trên phạm vi cả nước. Xây dựng đề án, dự án số hóa di sản văn hóa và hiện vật bảo tàng tại Bảo tàng tỉnh. Phối hợp với các cơ quan chuyên môn Trung ương xây dựng hệ thống tiêu chí chuyển đổi số cho các thông tin dữ liệu ứng dụng trên phần mềm lưu trữ, bản đồ số và liên kết, khai thác dữ liệu đa chiều về di sản văn hóa thống nhất trên toàn quốc như: Bộ tiêu chí chung (mã quốc gia, tỉnh/thành phố, đơn vị/tổ chức, cá nhân, danh mục,...); Bộ tiêu chí về di tích văn hóa - lịch sử, danh lam thắng cảnh; Bộ tiêu chí về di sản văn hóa phi vật thể; Bộ tiêu chí về bảo tàng, hiện vật bảo tàng; Bộ tiêu chí về hiện vật, di vật, bảo vật quốc gia... Xây dựng phần mềm, ứng dụng quản lý cơ sở dữ liệu về các di sản văn hóa trên nền tảng bản đồ số thống nhất VMAP của Đề án Hệ Tri thức Việt số hóa, cho phép lưu trữ, quản lý, khai thác và lập báo cáo từ các nguồn dữ liệu số hóa; bảo đảm việc tra cứu thuận tiện đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước, khả năng tích hợp, chia sẻ, kết nối và trực quan trong quá trình quản lý, khai thác.

Bên cạnh đó, rà soát, thu thập, bổ sung để hoàn thiện hồ sơ tư liệu về các di tích đã được xếp hạng cấp tỉnh, cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt; hiện vật, bộ sưu tập hiện vật tại các di tích và bảo tàng; các di sản văn hóa phi vật thể đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia để lựa chọn, xây dựng danh sách ưu tiên các di sản văn hóa cần số hóa ở từng hạng mục. Xây dựng, tích hợp, kết nối, liên thông, chia sẻ cơ sở dữ liệu, trao đổi tài nguyên thông tin di sản văn hóa số trong cả nước; tăng cường hợp tác trong việc bổ sung, chia sẻ, dùng chung cơ sở dữ liệu hoặc quyền truy cập tài nguyên thông tin số về di sản văn hóa; tăng cường sự tham gia của cộng động trong việc số hóa các di sản văn hóa. Thực hiện số hóa và ứng dụng trên nền tảng số các di tích quốc gia đặc biệt, các bảo vật quốc gia, các di sản văn hóa phi vật thể trong Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; 50% di tích quốc gia, 30% di tích cấp tỉnh; 30% các hiện vật, bộ sưu tập hiện vật tiêu biểu lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh. Đào tạo, bồi dưỡng về về kỹ năng chuyển đổi số cho những người làm công tác chuyên môn trong ngành di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh; đặc biệt là đội ngũ cán bộ trực tiếp quản lý, xây dựng cơ sở dữ liệu số về di sản văn hóa.

Giai đoạn 2026-2030: Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị công nghệ nâng cao nhằm quản lý, liên thông, chia sẻ, khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu về di sản văn hóa; tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ thông tin về di sản văn hóa số phục vụ nhu cầu của nhân dân. Hoàn thiện số hóa và ứng dụng trên nền tảng số tất cả các di tích quốc gia đặc biệt, các bảo vật quốc gia, các di sản văn hóa phi vật thể trong Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; 100% di tích quốc gia, 100% di tích cấp tỉnh; ít nhất 70% các hiện vật, bộ sưu tập hiện vật tiêu biểu lưu giữ tại các di tích và Bảo tàng tỉnh. Đa dạng hóa các dịch vụ bảo tàng sử dụng tài nguyên số, sản phẩm thông tin số trên nền tảng ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Áp dụng công nghệ thông tin vào tất cả các khâu trong hoạt động của Bảo tàng tỉnh đặc biệt là khâu trưng bày; kiểm kê; bảo quản hiện vật, bộ sưu tập hiện vật trong Bảo tàng và đối với các hiện vật tiêu biểu tại các di tích. Bước đầu ứng dụng công nghệ 3D, công nghệ thực tế ảo (VR) trong phục vụ trưng bày, tham quan, trải nghiệm các di tích và hiện vật bảo tàng. Đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại nhằm cập nhật, nâng cao nhận thức, trình độ, kỹ năng về chuyển đổi số cho cán bộ quản lý và người làm công tác chuyên môn trong ngành di sản văn hóa.

Việc triển khai thực hiện “Chương trình số hóa di sản văn hóa Việt Nam, giai đoạn 2021 - 2030” trên địa bàn tỉnh Hà Nam sẽ góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vị trí, vai trò, tầm quan trọng trong việc số hóa di sản văn hóa trong thời kỳ cách mạng công nghệ 4.0. Đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, nhất là công nghệ số nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu về di sản văn hóa, thực hiện liên thông dữ liệu số từ tỉnh đến trung ương, phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, trưng bày, tuyên truyền, giáo dục và giới thiệu về di sản văn hóa trong không gian số, đáp ứng hiệu quả dịch vụ cho xã hội, cộng đồng ở mọi lúc, mọi nơi. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về di sản văn hoá; đồng thời giúp khách tham quan và nhân dân có thể dễ dàng tiếp cận với di sản văn hóa Hà Nam mà không bị giới hạn về thời gian, không gian hay ngôn ngữ. Qua đó góp phần giới thiệu, quảng bá hình ảnh về mảnh đất và con người Hà Nam, tạo ra các dịch vụ có giá trị gia tăng để bảo tồn, khai thác và phát triển bền vững chính di sản văn hóa đó.

T.T

Tin liên quan