TIN TỨC

Kon Tum: Kết quả ghi nhận trong công tác triển khai Luật Di sản văn hóa

15:38, 01 Tháng Mười Hai 2021

(DSX) - Căn cứ Luật di sản văn hóa ngày 29/6/2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa ngày 18/6/2009; Nghị định số 98/2010/NĐ-CP, ngày 21/09/2010 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa; UBND tỉnh Kon Tum đã tham mưu cho Tỉnh ủy, Hội Đồng Nhân dân và ban hành nhiều công văn, văn bản, quyết định triển khai cụ thể trong lĩnh vực di sản văn hóa nhằm đảm bảo việc triển khai Luật Di sản văn hóa được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả và đồng bộ.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 25 tháng 11 năm 2005. (Nguồn: baodantoc.vn)

Cụ thể, trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể: Tính cuối tháng 8/2021 trên địa bàn tỉnh Kon Tum có 26 di tích lịch sử cách mạng, văn hóa, danh lam - thắng cảnh đã được các cấp xếp hạng là di tích cấp tỉnh, cấp quốc gia và cấp quốc gia đặc biệt. Trong đó, có 02 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 04 di tích xếp hạng cấp quốc gia và 20 di tích được xếp hạng cấp tỉnh.

Đặc biệt, trong những năm qua, công tác quản lý, tu bổ, phục hồi, khai thác và phát huy giá trị của các di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng trên địa bàn được sự quan tâm của các Bộ ngành từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là sự chỉ đạo về công tác chuyên môn và hỗ trợ kinh phí từ Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch. Trong đó, các di tích lịch sử thuộc loại hình di tích cách mạng luôn được chú trọng, quan tâm đầu tư như Di tích Căn cứ Tỉnh ủy Kon Tum, di tích Ngục Kon Tum, Ngục Đăk Glei...   

Các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh đã được xếp hạng được khảo sát, đánh giá hiện trạng và đưa vào Đề án Quy hoạch phát triển văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Kon Tum đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 để thực hiện công tác đầu tư, tu bổ, tôn tạo và phục hồi di tích.

Việc nghiên cứu, sưu tầm, lập hồ sơ khoa học trình các cấp phê duyệt xếp hạng các cấp (cấp tỉnh, cấp quốc gia, quốc gia đặc biệt) cũng được quan tâm triển khai thường xuyên, hàng năm. Hầu hết các di tích sau khi được xếp hạng chỉ mới được xây dựng bia di tích, biển báo, chỉ dẫn hoặc xây dựng tường rào bảo vệ, cổng, nền bê tông; một số di tích được xếp hạng nhưng chưa được đầu tư các hạng mục để nhận diện di tích (Căn cứ Trung Tín, Chiến thắng Đăk Seang, Chiến thắng Kleng, Phân Xưởng luyện gang C13- Quân giới khu 5, Căn cứ Huyện ủy H29, Làng kháng chiến Xốp Dùi), hoặc chưa có biển báo, chỉ dẫn (Phân Xưởng luyện gang C13- Quân giới khu 5). Hiện nay các di tích đều trong tình trạng xuống cấp hoặc bị xâm hại. Trong đó các di tích đã được đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước (Khu căn cứ Tỉnh ủy, Khu chứng tích Nhà thờ Kon H’ring, Chiến thắng Đăk Pét, Căn cứ Huyện ủy H16, Căn cứ Huyện ủy H29, Chiến thắng Măng Bút, Điểm cao 995 - Chư Tan Kra; Điểm cao 601), các di tích được đầu tư bằng nguồn xã hội hóa (Đình Trung Lương, Chùa Trung Khánh, Chùa Tổ đình Bác Ái).

Đa số các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Kon Tum phân bố trên địa hình đồi núi, giao thông đi lại khó khăn, xa khu dân cư nên công tác bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích gặp nhiều khó khăn; các hạng mục được đầu tư nhanh xuống cấp. Công tác xã hội hoá tại địa phương khó khăn, chủ yếu là các di tích lịch sử văn hoá (đình, chùa) thực hiện được xã hội hóa để thực hiện sửa chữa các hạng mục cấp thiết; còn các di tích lịch sử các mạng rất hạn chế trong xã hội hoá sửa chữa, tu bổ. Nguồn kinh phí đầu tư trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích rất hạn chế gây khó khăn trong công tác bảo quản tu bổ phục hồi di tích.

Trong những năm qua, công tác tuyên truyền, quản lý, bảo tồn, phát huy các di tích lịch sử - văn hóa đã được các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và được đông đảo nhân dân ủng hộ, đóng góp tâm sức nên đã đạt được những kết quả quan trọng.

Tượng đài “Bất khuất” và Nhà tưởng niệm tại Khu di tích Ngục Kon Tum. (Nguồn: baotanglichsu.vn)

Công tác Bảo vệ di vật, cổ vật, hàng năm, thực hiện các văn bản của Bộ VHTTDL, tỉnh đã chỉ đạo cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các địa phương thực hiện tốt công tác quản lý các di vật, cổ vật thuộc hệ thống di tích lịch sử văn hóa và danh thắng trên địa bàn do địa phương mình quản lý.

Về phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể, trong những năm qua, tỉnh Kon Tum đã triển khai nhiều chương trình, giải pháp nhằm phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể trên địa bàn tỉnh đến với công chúng trong và ngoài nước thông qua các hoạt động như: Xây dựng hệ thống di tích lịch sử văn hóa, danh lam và thắng cảnh được đưa vào các địa điểm tham quan du lịch của tỉnh. Đồng thời quảng bá các giá trị di sản văn hóa vật thể (di tích) đến với công chúng trong và ngoài nước; Thực hiện số hóa cho 26 các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng trên địa bàn tỉnh.

Hoạt động bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể. Từ năm 2011 đến năm 2014, kết quả điều tra tổng số Di sản văn hóa phi vật thể ở tỉnh Kon Tum có trên 200 di sản văn hóa phi vật thể đang còn duy trì trong các thôn làng trên địa bàn. Năm 2014, sử thi của dân tộc Ba Na Rơ Ngao được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Trong giai đoạn 2015 - 2020, tiếp tục tiến hành kiểm kê di sản văn hóa truyền thống điển hình các dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum, đã lên danh mục 20 nghi lễ truyền thống và hệ thống các nghi lễ theo chu kỳ sinh hoạt của dân tôc Xơ Đăng (nhánh Xơ Teng), 08 nghi lễ liên liên quan đến chu kỳ sản xuất của dân tộc Xơ Đăng (nhánh Mơ Nâm),  14 nghi lễ của dân tộc Ba Na, 8 nghi lễ của dân tộc Gia Rai; danh mục 10 nhạc cụ truyền thống dân tộc B’râu, kiểm kê, nghiên cứu 02 kiến trúc nhà ở truyền thống của dân tộc H’rê và dân tộc Xơ Đăng (nhóm Xơ Teng) và lập hồ sơ khoa học để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia lễ Et Đông của dân tộc Ba Na (nhóm Giơ Lâng) trên địa bàn tỉnh Kon Tum[1], nâng số di sản trong danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tỉnh Kon Tum lên thành 02 di sản.

Từ khi được UNESCO vinh danh đến nay, tỉnh đã thực hiện các Đề án, Kế hoạch về phát triển văn hóa đồng bào các DTTS trên địa bàn tỉnh và đã thu lại được nhiều thành quả nhất định; Trong giai đoạn 2011 - 2015, đã tiến hành khảo sát kiểm kê khoa học di sản văn hóa cồng chiêng các dân tộc trên địa bàn các huyện, qua khảo sát và tổng hợp từ các huyện, thành phố số cồng chiêng trên địa bàn tỉnh hiện có 1.916 bộ (Đăk Glei 89 bộ, Ngọc Hồi 59 bộ, Đăk Tô 54 bộ, Tu Mơ Rông 308 bộ, Đăk Hà 106 bộ, Sa Thầy 389 bộ, Kon Plông 537 bộ, Kon Rẫy 147 bộ, thành phố Kon Tum 227 bộ).

Phụ nữ dân tộc Ba Na (ở TP. Kon Tum) đang miệt mài với nghề dệt thổ cẩm truyền thống của dân tộc. (Nguồn: baodantoc.vn)

Về công tác truyền dạy và phát huy di sản văn hóa phi vật thể. Triển khai Quyết định số 1183/QĐ-UBND, ngày 07/10/2016 của UBND tỉnh Kon Tum về Quyết định phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát huy di sản không gian văn hóa cồng chiêng tỉnh Kon Tum giai đoạn 2016 – 2020”, trên địa bàn tỉnh đã tổ chức 103 lớp truyền dạy, trong đó, tổ chức 99 lớp truyền dạy diễn tấu cồng chiêng, xoang (79 lớp tổ chức tại các làng đồng bào các dân tộc thiểu số, 20 lớp tổ chức tại các trường học); 04 lớp về kỹ năng chỉnh âm cồng chiêng (03 lớp cho các nghệ nhân biết diễn tấu cồng chiêng, 01 lớp cho thanh thiếu nhi). Ngoài ra, có hàng chục lớp truyền dạy cồng chiêng, xoang do chính đồng bào các dân tộc tự chủ động tổ chức thực hiện. Nhiều lớp truyền dạy các loại hình văn hóa khác nhau như Tổ chức mở một lớp truyền dạy “kỹ thuật chế tác và kỹ năng diễn tấu nhạc cụ truyền thống” của dân tộc Brâu (năm 2016), truyền dạy nghề dệt truyền thống... Nghệ nhân truyền dạy các lớp là các nghệ nhân ưu tú, nghệ nhân dân gian của thôn, làng. Trong quá trình tổ chức lớp học truyền dạy, các nghệ nhân đã phát huy được tài năng, trí tuệ của mình để truyền dạy những kiến thức, kỹ năng diễn tấu cồng chiêng, múa xoang, chỉnh âm cồng chiêng trong cộng đồng, nhất là lớp trẻ...

Cùng với những kết quả đã đạt được, công tác tổ chức thực hiện Luật Di sản văn hóa những năm qua trên địa bàn tỉnh còn bộc lộ một số hạn chế như: Về việc ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Di sản còn ít, trình độ nhận thức về Luật di sản văn hóa của người dân và cán bộ chuyên môn phụ trách vẫn còn nhiều hạn chế. Do điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh còn nhiều khó khăn, nên việc bố trí nguồn lực đảm bảo cho thực hiện Luật di sản văn hóa còn chưa cao.  Đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc còn nhiều hạn chế về số lượng, chưa được đào tạo, tập huấn bài bản về công tác quản lý, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa tại địa phương. Nguồn lực làm công tác văn hóa tại cơ sở ít (đa số chỉ 01 cán bộ phụ trách), đội ngũ cộng tác viên tại các thôn, khu tổ, tổ dân phố còn kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ và không được hưởng trợ cấp nên hiệu quả công việc chưa cao. Việc khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc tại chỗ chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng, nhiều phong tục tập quán tốt đẹp của đồng bào các dân tộc đang bị mai một; chính sách hỗ trợ nghệ nhân dân gian và những người làm công tác nghiên cứu văn hoá dân tộc chưa được quan tâm đúng mức. Bên cạnh đó, đồng bào các dân tộc thiểu số còn thiếu sự chủ động trong việc gìn giữ, phát huy văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc tộc mình; chưa có sự nhìn nhận đúng mức về giá trị và vai trò to lớn của văn hóa truyền thống của dân tộc trong sự phát triển của cộng đồng, xã hội…

Tin liên quan