Cảnh báo

Cảnh báo về sự biến mất của các di tích thời Hùng Vương

09:48, 04 Tháng Mười Hai 2019

Câu chuyện về 18 đời vua Hùng kéo dài hàng nghìn năm từng gây tranh cãi; lo ngại các di tích thời kỳ Hùng Vương bị phá hủy; sự kiện Hùng Nghị Vương đánh Thục ở Ai Lao có thật không; Cổ Loa vào thời trước An Dương Vương đã có vai trò gì liên quan đến các vua Hùng… Đó là những vấn đề liên quan đến thời đại Vua Hùng mà các nhà khoa học, nhà sử học đang cố gắng “vén bức màn” bí ẩn.

Tại hội thảo khoa học quốc gia “Thời đại Hùng Vương trong tiến trình lịch sử Việt Nam” do Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển văn hóa Hùng Vương tổ chức, các nhà khoa học như PGS.TS Hoàng Văn Khoán, Trịnh Sinh, Nguyễn Minh Tường, GS.TS Lâm Thị Mỹ Dung… đều tập trung làm rõ thời đại Hùng Vương trong lịch sử thông qua sử liệu, kết quả khảo cổ học mấy chục năm qua.

Xung quanh con số 18 đời Vua Hùng

Theo đó, sự thật về 18 đời Vua Hùng đến nay vẫn còn là ẩn số đối với lịch sử Việt Nam, cần được các nhà khoa học nghiên cứu thêm để thống nhất. Theo một số tài liệu lịch sử, từ thời điểm Kinh Dương Vương lên ngôi năm 2879 TCN cho đến hết thời Hùng Vương năm 258 TCN, kéo dài tới 2.622 năm.

Như vậy, 18 đời Vua Hùng trị vì 2.622 năm, tính trung bình mỗi vị vua trị vì hơn 145 năm? Con số này có nhiều giả thiết khác nhau, nhiều ý kiến hoài nghi. Thậm chí, trong cuốn “Việt Sử tiêu án” viết năm 1775, tác giả Ngô Thì Sĩ cũng tỏ ra băn khoăn: "Người ta không phải là vàng đá, sao lại sống lâu được như thế? Điều ấy càng không thể hiểu được?".

Còn tác giả Nguyễn Khắc Thuần trong cuốn “Thế thứ các triều vua Việt Nam” viết: "18 đời nối nhau trị vì 2.622 năm là những con số rất khó thuyết phục người đọc. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng với người Việt, số 9 là số thiêng, các bội số của số 9 (như 18, 36, 72, 99) cũng là những số thiêng tương tự.

Cho nên, con số 18 đời Hùng Vương mà Hùng triều ngọc phả nói tới cũng chỉ là ước lệ, biểu tượng của một ý niệm thiêng liêng nào đó". Theo bản “Ngọc phả Hùng Vương” được soạn năm 980 dưới triều Vua Lê Đại Hành, không phải 18 đời Vua Hùng mà là 18 nhành/ngành với tổng cộng 180 đời vua. “Tân đính Lĩnh Nam chích quái” thời Hậu Lê cũng viết là 18 ngành Vua Hùng, không phải 18 vị vua.

Câu chuyện 18 đời Vua Hùng, các nhà khoa học giải thích con số này chỉ mang tính biểu tượng. Quan điểm thống nhất và đã được Nhà nước chấp nhận là thời đại Hùng Vương cách ngày nay xa nhất 2.700 năm, với sự ra đời của Nhà nước Văn Lang và trùng khớp với văn hóa Đông Sơn. Điều này được các nhà khoa học lịch sử, khảo cổ, nhân học chứng minh trong suốt nửa thế kỷ qua.

Lễ hội Đền Hùng

PGS.TS Trần Đức Cường, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho biết, đã từng có bốn cuộc hội nghị khoa học cấp quốc gia đã được tổ chức vào các năm 1968, 1969, 1971 và 1972 về triều đại Hùng Vương ở nước ta.

Với cách tiếp cận đa bộ môn và phương pháp nghiên cứu liên ngành, cùng với quá trình khai quật nhiều di chỉ khảo cổ học thuộc các văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun, Phùng Nguyên và đặc biệt là văn hóa Đông Sơn có nguồn gốc bản địa, các nhà khoa học đã đi đến kết luận rằng, thời kỳ Hùng Vương là có thật trong lịch sử Việt Nam, niên đại sớm nhất là thế kỷ VIII trước Công nguyên và muộn nhất là thế kỷ II trước Công nguyên.

Với tầm quan trọng và những thành tựu đạt được của Nhà nước Văn Lang trong thời kỳ này trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và tầm bao quát của Nhà nước ấy trên lãnh thổ quốc gia Việt Nam thời kỳ dựng nước, đã có thể định danh một thời đại trong lịch sử Việt Nam: Thời đại Hùng Vương.

Nhiều di tích bị phá hủy

Từ năm 1971 tới nay, các nhà khảo cổ học đã có điều kiện để khai quật thêm nhiều di chỉ thuộc văn hóa Đông Sơn hoặc văn hóa Phùng Nguyên có mối quan hệ chặt chẽ với sự hình thành và phát triển của Nhà nước Văn Lang thời đại Hùng Vương.

Di tích khảo cổ Vườn chuối (Hà Nội) tiêu biểu thời Hùng Vương

Bên cạnh việc trồng lúa và hoa màu, nghề chăn nuôi, nghề làm đồ gốm, luyện kim (đúc đồng, luyện sắt) có vai trò to lớn thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện được dấu vết của một số trung tâm đúc đồng và lò luyện quặng để lấy sắt…

Tại hội thảo mới đây, PGS.TS Tống Trung Tín, Chủ tịch Hội Khảo cổ học Việt Nam thay mặt các nhà khảo cổ phục dựng lại đời sống vật chất và đời sống tinh thần của cư dân thời Hùng Vương với nhiều chi tiết sinh động.

PGS.TS Hoàng Văn Khoán - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cho biết, từ việc dùng gậy chọc lỗ, dùng cuốc tiến lên nông nghiệp dùng cày, có lưỡi bằng kim loại, có sức kéo bằng động vật là cuộc cách mạng trong nông nghiệp thời dựng nước. Khảo cổ học đã phát hiện 4 loại lưỡi cày đồng mà hình dáng của nó tương ứng với 4 vùng đất khác nhau, đất nào cày ấy.

Ở vùng trung du là lưỡi cày hình tam giác, lưỡi cày hình thoi ở lưu vực sông Hồng, lưỡi hình chân vịt ở lưu vực sông Mã, lưỡi cày vai ngang ở lưu vực sông Cả. Nghề luyện kim, đúc đồng và luyện sắt cũng phát triển ở thời đại Hùng Vương.

Có 4 trung tâm đúc đồng lớn dưới thời này được phát hiện gồm: xã Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội); Trung tâm Đình Tràng (xã Dục Tú, Đông Anh, Hà Nội); Trung tâm Luy Lâu (xã Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh) và Trung tâm Thành Dền (xã Tự Lập, Mê Linh, Vĩnh Phúc). Ngoài ra, đồ gốm cũng rất phát triển trong thời đại Hùng Vương.

TS Trần Anh Dũng - Viện Khảo cổ học Việt Nam cho rằng, ở giai đoạn này, khảo cổ học đã phát hiện được 9 khu lò sản xuất gốm, tập trung ở 4 tỉnh: Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Thanh Hóa và Quảng Ninh.

Còn PGS.TS. Nguyễn Đức Nhuệ - Viện Sử học - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam thông tin, nếu lấy Đền Hùng làm tâm, trong bán kính khoảng 10km quanh khu vực núi Nghĩa Lĩnh (TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ), nơi được coi là kinh đô đầu tiên của Nhà nước Việt Nam, đến nay đã có 40 di tích khảo cổ thời đại kim khí.

Một chuỗi di tích, di vật thu được tạo thành một hệ thống văn hóa kế tiếp nhau. Đó là những di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu, có giá trị lịch sử - văn hóa như truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên”, “Bánh chưng bánh dày”, “Sơn Tinh - Thủy Tinh; là những lễ hội với các trò diễn, nghi lễ, diễn xướng dân gian độc đáo như: Hội cày tịch điền ở Minh Nông (TP Việt Trì), hội rước Chúa gái ở Chu Hóa, Hy Cương (huyện Lâm Thao); những dân ca lễ nghi tín ngưỡng, mà cụ thể là hát xoan, món ăn tinh thần không thể thiếu trong cộng đồng dân cư Phú Thọ…

Quan trọng là vậy nhưng cũng tại hội thảo, các nhà khoa học đã chỉ ra, hầu hết các di tích của thời kỳ Hùng Vương đến nay đã bị phá hủy hoàn toàn.

Theo một khảo sát của các nhà khảo cổ học thời kỳ kim khí của Viện Khảo cổ, sơ bộ tới năm 2.000 có trên 1000 di tích thời Đông Sơn. Tuy nhiên, đến đầu năm 2019, chúng ta mất trên 50% di tích thuộc thời đại này. Riêng miền đất tổ Phú Thọ, Vĩnh Phúc các di tích thời đại Hùng Vương và tiền Hùng Vương mất tới 90%, nghĩa là gần như bị phá hủy hoàn toàn.

“Theo Công ước của UNESCO về Di sản văn hóa, đặc biệt Công ước về di sản khảo cổ học Lausanne 1990, đây là loại di tích quan trọng nhất mang tính xác thực cao nhất để chứng minh thời kỳ Hùng Vương là có thật, đồng thời đây là loại di tích dễ bị phá hủy nhất và một khi đã bị phá hủy không bao giờ có thể tái sinh được. Các nhà nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng, đánh mất di tích lịch sử là đánh mất trí nhớ của cả một dân tộc, là bỏ quên nguồn cội của dân tộc” - PGS.TS Tống Trung Tín cảnh báo.

Tình trạng thương mại hóa di tích, vi phạm di tích hiện nay khá phố biển; công tác trùng tu, tôn tạo di tích còn thiếu đồng bộ. Hệ thống giao thông tại nhiều di tích còn rất khó khăn, nhiều di tích có giá trị lớn về văn hóa - lịch sử nhưng luôn trong tình trạng vắng khách tham quan, thậm chí biệt lập với xã hội do cơ sở hạ tầng còn yếu kém...

Theo Báo Pháp Luật

 

Tin liên quan