Thế giới

Ngôi đền Gobekli Tepe - Thổ Nhĩ Kỳ

10:09, 27 Tháng Ba 2017

(Disanxanh)-Göbekli Tepe (Kurdish: Girê Navokê) là một ngôi đền trên đỉnh của một mỏm thuộc một dãy núi khoảng 15 kilômét (9,3 mi) phía đông bắc thị trấn Şanlıurfa (trước kia là Urfa / Edessa) phía đông nam Thổ Nhĩ Kỳ.

(Disanxanh)-Göbekli Tepe (Kurdish: Girê Navokê) là một ngôi đền trên đỉnh của một mỏm thuộc một dãy núi khoảng 15 kilômét (9,3 mi) phía đông bắc thị trấn Şanlıurfa (trước kia là Urfa / Edessa) phía đông nam Thổ Nhĩ Kỳ.


Ảnh minh họa (st)
 Địa điểm này hiện đang được các nhà khảo cổ học Đức và Thổ Nhĩ Kỳ khai quật và được cho là đã được những người săn bắn-hái lượm dựng lên vào 9000 năm trước Công Nguyên (khoảng 11,000 năm trước, nhưng không một công cụ nào được tìm thấy, vì thế nguồn gốc của nó vẫn chưa được biết và hiện dẫn tới ra nhiều suy đoán). Cùng với Nevalı Çori, địa điểm này đã cách mạng hóa sự hiểu biết của chúng ta về Thời kỳ đồ đá mới Âu Á. Địa điểm này có niên đại tới gần 12,000 năm và có trước bất kỳ một nền văn minh nào từng được phát hiện trên trái đất hàng nghìn năm. Khi được phát hiện, nó có vẻ bị cố ý chôn vùi trong cát, vì những lý do chưa được biết.

Göbekli Tepe là cấu trúc cổ nhất do con người tạo ra đã được khám phá.[6] Địa điểm này nằm trên đỉnh đồi, và có 20 vòng, (hiện) nằm dưới đất (bốn trong số đó đã được khai quật). Mỗi căn nhà có đường kính 10-30 mét, được trang trí (chủ yếu) với những cây cột đá vôi lớn hình chữ T, và đây cũng là đặc điểm lớn nhất. Mỗi cột cao khoảng tám feet và nặng tới bảy tấn. Các phiến đá vôi được khai thác từ các mỏ đá nằm cách khoảng 100 mét từ đỉnh đồi, và những người thợ thời đồ đá mới có lẽ đã dùng các công cụ đá lửa để khai thác đá. Tuy nhiên, không một dụng cụ nào được tìm thấy ở địa điểm hay tại mỏ đá. Việc người dân thời kỳ đồ đá mới với những công cụ nguyên thủy như vậy có thể khai thác, điêu khắc, vận chuyển lên đồi và dựng những cột đá lớn đó đã khiến giới khảo cổ ngạc nhiên, bởi nó đòi hỏi một lượng nhân công và lao động rất lớn.

Trong các kết cấu, hai cột được đặt giữa mỗi vòng tròn, có lẽ để đỡ mái, và có tới tám cột được bố trí đều quanh tường căn phòng. Khoảng cách giữa các cột được đặt các phiến đá chưa đẽo gọt, và các bàn thờ đá được đặt giữa các đôi cột quanh các cạnh tường.

Hầu hết các cột được trang trí với các phù điêu các loài vật và những hình trừu tượng. Các mô hình trừu tượng có thể thể hiện các biểu tượng linh thiêng thường được thấy nhất, như ở các bác tranh hang động thời kỳ đồ đá mới ở những nơi khác. Những hình phù điêu tượng trưng được đẽo gọt công phu thể hiện sư tử, bò, lợn rừng, cáo, nai, lừa, rắn và caccs loài bò sát, côn trùng, nhện và chim, đặc biệt cả kên kên và gà. (Ở thời điểm ngôi đền được xây dựng, vùng đất xung quanh tươi tốt hơn và có khả năng là nơi sinh sống của số loài động vật đa dạng đến vậy, trước khi hàng nghìn năm định cư và trồng cấy khiến vùng đất trở nên gần như một hoang mạc bụi như ngày nay.)

Ít hình người được trang trí tại Göbekli Tepe, nhưng nó có một hình phù điêu một phụ nữ khỏa thân ngồi ở một tư thế cúi, mà Schmidt so sánh với những hình Venus accueillante tìm thấy ở địa điểm thời kỳ đồ đá mới tại bắc Phi, và một thân thể cụt đầu bị bao quanh bởi những con kền kền. Một số cột hình chữ T có hình tay người, có thể cho thấy chúng thể hiện người được cách điệu (hay các vị thần hình người). Một ví dụ khác được trang trí với những bàn tay người trong cái có thể diễn tả là một cử chỉ cầu nguyện, với một khăn choàng đơn giản hay áo tế trạm ở trên; đây có thể để thể hiện một vị thầy tu của đền.

Cho tới khi những cuộc khai quật bắt đầu, một khu phức hợp ở tầm vóc này được cho là không thể có ở một xã hội cổ xưa như vậy, và với những phương tiện khai thác đá thô sơ như thế. Chuỗi lớn các lớp tầng cho thấy nhiều hoạt động trong hàng thiên niên kỷ, có lẽ bắt đầu từ thời đồ đá giữa. Lớp cư ngụ sớm nhất (stratum III) có các cột nguyên khối được liên kết bởi những bức tường xây thô hình thành nên các cấu trúc hình oval hay hình tròn. Bốn công trình như vậy đã được khai quật, với đường kính trong khoảng 10–30 mét (33–98 ft). Các cuộc khảo sát địa vật lý cho thấy sự tồn tại của 16 cấu trúc khác.

Stratum II, có niên đại từ Thời kỳ đồ đá mới Tiền gốm B (PPNB) (7500–6000 BC), đã hé lộ nhiều phồng chữ nhật liền kề với sàn bằng đá vôi đánh bóng, làm gợi nhớ đến những sàn terazzo của La Mã. Lớp trên nhất gồm trầm tích lắng đọng là kết quả của hoạt động nông nghiệp.

TH

Tin liên quan