Bảo vệ môi trường

Giải pháp cho công tác bảo vệ môi trường

16:00, 11 Tháng Mười Hai 2016

Mỗi năm, trên cả nước phát sinh hơn 23 triệu tấn rác thải sinh hoạt; hơn bảy triệu tấn chất thải rắn công nghiệp và hơn 17 nghìn tấn chất thải y tế nguy hại. Điều đó đã và đang gây áp lực ngày càng tăng đối với công tác bảo vệ môi trường (BVMT). Nhiều chuyên gia cho rằng, các cấp có thẩm quyền cần tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách để công tác BVMT ở Việt Nam đạt hiệu quả hơn nữa.

Cán bộ, chiến sĩ phòng PC49 Công an tỉnh Khánh Hòa kiểm tra, thu thập mẫu nước thải từ một cơ sở sản xuất. Ảnh: HỮU TOÀN

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường): Mỗi năm Việt Nam sử dụng hơn 100 nghìn tấn hóa chất bảo vệ thực vật, trong đó có 80% sử dụng sai mục đích, không đúng kỹ thuật; phát sinh 76 triệu tấn rơm rạ; từ 85 đến 90 triệu tấn chất thải chăn nuôi và 80 triệu tấn khí thải. Đáng chú ý, cả nước có 458 bãi chôn lấp rác thải, trong đó có 337 bãi chôn lấp không hợp vệ sinh, phần lớn các bãi rác lộ thiên, không có hệ thống thu gom, xử lý nước rỉ rác. Có hơn 100 lò đốt rác sinh hoạt công suất nhỏ có nguy cơ phát sinh khí đi-ô-xin, funran… gây ô nhiễm môi trường. Nhận thức được tầm quan trọng đối với công tác BVMT, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về BVMT như: Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 41/NQ- TW về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa đất nước; Quốc hội thông qua Luật BVMT, Luật Đa dạng sinh học và một số luật liên quan đến BVMT, hoặc có các quy định về BVMT; Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030… Đáng chú ý, từ năm 2006, ngân sách chi cho BVMT đã được bố trí thành một nguồn riêng và tăng dần qua từng năm, với mức khoảng 1% tổng chi ngân sách nhà nước. Riêng năm 2016, tổng chi sự nghiệp môi trường ước đạt 12.290 tỷ đồng, trong đó ngân sách T.Ư 1.700 tỷ đồng và ngân sách địa phương là 10.590 tỷ đồng.

Từ năm 2012 đến nay, nguồn thu từ thuế BVMT liên tục tăng ổn định qua các năm. Nếu như năm 2012, nguồn thu từ thuế BVMT là 11.290 tỷ đồng, thì đến năm 2015 là 27.020 tỷ đồng. Chính phủ cũng đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích nhằm thúc đẩy nguồn vốn xã hội hóa cho công tác BVMT; bước đầu hình thành hệ thống dịch vụ môi trường ngoài công ích, thu hút được một số lượng không nhỏ các doanh nghiệp tham gia đầu tư. Hiện nay, cả nước có gần 100 doanh nghiệp, với 56 đại lý có địa bàn hoạt động từ hai tỉnh trở lên được Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN và MT) cấp phép xử lý chất thải nguy hại; khoảng 130 đơn vị, chủ yếu là đơn vị vận chuyển chất thải nguy hại, do các địa phương cấp phép đang hoạt động. Có 32 đơn vị được xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất và tám đơn vị được chỉ định tổ chức đủ điều kiện giám định phế liệu…

Mặc dù nhiều vấn đề môi trường đã được xử lý, mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường chậm lại, tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề như: Hiện vẫn còn 44/439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (xét theo quy định tại Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) chưa hoàn thành biện pháp xử lý ô nhiễm triệt để, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng kéo dài. Tỷ lệ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ xả nước thải, khí thải không đạt quy chuẩn cho phép ra môi trường, trong năm 2015 là 24,5%. Trong khi đó, nhiều khu, cụm công nghiệp, làng nghề chưa được đầu tư xây dựng hạ tầng BVMT, gây ô nhiễm môi trường như: trong số 283 khu công nghiệp đang hoạt động, còn 71 khu công nghiệp chưa hoàn thành việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung (chiếm 25%); 615 cụm công nghiệp đang hoạt động, nhưng chỉ có khoảng hơn 5% đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung. Nước thải sinh hoạt ở hầu hết các đô thị, khu dân cư chưa được xử lý; nguồn nước mặt trong các đô thị, khu dân cư ở một số địa phương bị ô nhiễm nặng…

Theo Tổng Cục trưởng Môi trường Nguyễn Văn Tài, nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên, là do mô hình tăng trưởng còn dựa trên các loại hình sản xuất ô nhiễm môi trường, tiêu tốn nhiều năng lượng, tài nguyên, nhiều dự án công nghệ sản xuất lạc hậu dẫn đến áp lực lớn lên môi trường, nhất là Việt Nam có nguy cơ trở thành “bãi thải” công nghệ của nhiều nước trên thế giới. Tư tưởng coi trọng thu hút đầu tư, tăng trưởng kinh tế, coi nhẹ BVMT còn phổ biến trong các cấp, ngành, nhất là ở địa phương; ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp và cộng đồng dân cư còn thấp. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về BVMT từ T.Ư đến địa phương còn nhiều bất cập; chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước còn phân tán, thiếu thống nhất. Thiếu cơ chế đột phá trong thu hút đầu tư, huy động nguồn lực đầu tư cho BVMT, trong khi nguồn thu từ môi trường tương đối lớn, nhưng chưa được sử dụng đầu tư trở lại cho BVMT…

Để tăng cường công tác BVMT, sớm giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, cũng như từng bước cải thiện chất lượng môi trường ở Việt Nam hiện nay, Bộ trưởng TN và MT Trần Hồng Hà cho rằng: Cần quán triệt, thực hiện đúng, đầy đủ các quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về BVMT và phát triển bền vững. Thay đổi tư duy về BVMT từ chỉ ưu tiên phát triển kinh tế, không chú trọng yêu cầu BVMT sang tiếp cận một cách có hệ thống, quản lý môi trường phải mang tính chất tiếp cận liên vùng và tư duy nền kinh tế thị trường. Tập trung kiểm soát việc xả thải của các dự án phát sinh lượng nước lớn ra môi trường; các loại hình sản xuất ô nhiễm môi trường như luyện thép, khai thác khoáng sản, nhiệt điện, sản xuất giấy, dệt nhuộm…; các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, cơ sở sản xuất có công nghệ lạc hậu.

Các chuyên gia, các nhà khoa học cũng đề nghị, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và kiểm soát việc bảo đảm tuân thủ quy định về BVMT đối với những dự án đã đi vào hoạt động, trước hết là các dự án có nguồn thải ra sông, ra biển, các khu vực nhạy cảm về môi trường. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống quan trắc, cảnh báo về môi trường tại các vùng kinh tế trọng điểm, khu vực tập trung nhiều nguồn thải, khu vực nhạy cảm về môi trường. Đầu tư và có chính sách thu hút đầu tư của khối tư nhân, các nhà đầu tư nước ngoài vào hoạt động xử lý chất thải, cung cấp các dịch vụ BVMT, cũng như phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ BVMT…

(Nguồn: nhandan.com.vn)

Tin liên quan