Ứng dụng

Các nước ASEAN bàn thảo ứng dụng ICT để bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

10:16, 17 Tháng Tư 2015

Các chuyên gia, các nhà hoạch định chính sách, và chuyên viên CNTT từ các nước ASEAN đã đề xuất nhiều hành động trong việc ứng dụng CNTT để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa các nước ASEAN tại Hội thảo về chủ đề này tại Hà Nội trong hai ngày 16 - 17/4/2015.

Đây là Hội thảo nằm trong khuôn khổ dự án hợp tác ASEAN về ứng dụng ICT bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở các nước thành viên ASEAN được thông qua tại Hội nghị ASEAN-COCI lần thứ 48 tại Brunei Darussalam. Cơ quan triển khai dự án là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch Việt Nam. Cơ quan điều phối là Viện Chiến lược Thông tin và Truyền thông (TT&TT), Bộ TT&TT và Cục Di sản văn hóa - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Các nước tham dự có Philippines, Indonesia, Thái Lan, Lào, Singapore và Vietnam và đại biểu từ Ban thư ký ASEAN.

Các quốc gia Đông Nam Á “giàu có” về di sản văn hóa vật thể (Di sản tự nhiên, Di sản văn hóa) và Di sản văn hóa phi vật thể (Nghệ thuật, Festival, ca hát...) và đã có nhiều chính sách về di sản văn hóa như Luật (đạo luật) về di sản văn hóa quốc gia, công trình kỷ niệm, chiến lược phát triển văn hóa nhưng chưa có quy định nào về ICT cho bảo tồn và phát huy di sản văn hóa.

Các đại biểu tại Hội thảo đã đề xuất xây dựng các chính sách như cần có kế hoạch tổng thể ứng dụng ICT cho bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa cho ASEAN và Tiêu chuẩn cho các ứng dụng ICT để bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa.

Các hành động cụ thể, các chuyên gia ASEAN nhất trí hình thành: Các mạng ảo ở ASEAN để chia sẻ các thực tiễn tốt nhất về các ứng dụng ICT cho các di sản văn hóa; Trang web để phổ biến thông tin di sản văn hóa; Công nghệ làm phim tài liệu; Các mạng ảo ở ASEAN để chia sẻ các thực tiễn về các ứng dụng ICT cho các di sản văn hóa; Đưa ra các tiêu chuẩn chung cho số hóa, nghiên cứu và phát triển trên công nghệ mới để làm phim tài liệu và hỗ trợ tạo các nhà nghiên cứu, người phụ trách bảo tàng...

Các ứng dụng ICT để bảo tồn di sản văn hóa được các nước trong ASEAN trình bày tại Hội thảo gồm: Cơ sở dữ liệu; “ngân hàng dữ liệu” di sản văn hóa, Hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong quản lý và khai thác thông tin về di sản văn hóa, Số hóa các văn bản bảo tồn, các công trình di sản văn hóa (công trình kỷ niệm, công trình cổ, bảo tàng…); Trang web văn hóa, Các ứng dụng web, hỗ trợ rất nhiều trong việc trình diễn phim tài liệu về di sản văn hóa, các ứng dụng di động, truyền thông xã hội.

Các công nghệ quay phim tài liệu các di sản mà các nước ASEAN đã và đang ứng dụng đáng chú ý gồm: ảnh video, “đeo” (Di sản qua kính Google), máy bay không người lái, Street View của Google (để tạo ra một tour ảo dựa trên web cho người sử dụng hưởng thụ và trải nghiệm, bằng cách sử dụng bất cứ thiết bị hay máy tính nào); Sử dụng GIS và Google Map để phác ra giải pháp (Quản lý dữ liệu không gian về nội dung và thông tin liên quan đến di sản); Sử dụng công nghệ quét 3D đối với các vị trí quay phim, công trình kỷ niệm và đồ tạo tác.

Tại Việt Nam, Quyết định số 58/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 đã nêu rõ về Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc “Điều tra, sưu tầm, xây dựng “ngân hàng dữ liệu” về văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể tiêu biểu. Đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại để bảo quản, giữ gìn lâu dài tài liệu, hiện vật tại các bảo tàng, cơ quan lưu trữ tư liệu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật ở Trung ương và địa phương.

Về lĩnh vực bảo tàng, chiến lược này nêu rõ “Ứng dụng một cách hợp lý và có hiệu quả các thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới trong trưng bày và bảo quản tài liệu, hiện vật bảo tàng; ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý và thông tin tư liệu bảo tàng; nối mạng các bảo tàng từ Trung ương đến địa phương. Chú trọng tính khoa học, tính hệ thống trong việc xây dựng “ngân hàng dữ liệu” về tài liệu, hiện vật bảo tàng. Phấn đấu 50 - 70% số tài liệu, hiện vật quý hiếm trong bảo tàng tỉnh, 70 – 100% tài liệu, hiện vật quý hiếm trong bảo tàng quốc gia được tin học hóa đến năm 2015 và năm 2020”.

Theo đó, “ngân hàng dữ liệu” về di sản văn hóa của Việt Nam gồm ngân hàng dữ liệu các bảo tàng Việt Nam, các công trình kỷ niệm và di tích, Di sản văn hóa phi vật thể, hiện vật bảo tàng Việt Nam, số hóa bản đồ các lễ hội truyền thống, âm nhạc và nghệ thuật trình diễn truyền thống Việt Nam.

TS. Lã Hoàng Trung, Viện phó Viện Chiến lược TT&TT, chỉ trì Hội thảo tại Việt Nam cho biết báo cáo cuối cùng từ dự án về hiện trạng các ứng dụng ICT và các khuyến nghị về các giải pháp sử dụng ICT trong bảo tồn và phát huy các di sản tại các nước thành viên ASEAN sẽ được đệ trình lên Ban Thư ký ASEAN và được gửi tới chính phủ các nước ASEAN để tham chiếu sau khi dự án hoàn thành. Thực hiện ứng dụng ICT vào bảo tồn và phát huy di sản văn hóa để du lịch hấp dẫn hơn cũng như giáo dục thế hệ trẻ về di sản văn hóa sinh động hơn.

Được biết các chuyên gia sẽ đi thăm một số bảo tàng tại Hà Nội tìm hiểu ứng dụng ICT trong trưng bày bảo tàng, quản lý bảo tàng, hiện vật... trong thời gian tại Hà Nội.

Nguồn:ictpress 

Tin liên quan