Tầm nhìn

Tiếp cận môi trường Văn hóa – Xã hội với tư cách là một bộ phận cấu thành di sản Văn hóa

08:00, 05 Tháng Giêng 2015

Bảo tồn di sản văn hóa phải gắn với bảo vệ môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội tạo những điều kiện tối cần thiết cho sự tồn tại lâu dài của di sản và cao hơn nữa phải tạo nên sự hấp dẫn thẩm mỹ/vẻ đẹp hài hòa của di sản.

1. Di sản văn hóa là một bộ phận cấu thành môi trường sống của nhân loại
Theo định nghĩa tại Điều 1 Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên". Như thế có thể hiểu môi trường - không gian cư trú - sinh tồn của chúng ta bao gồm 3 bộ phận cấu thành cơ bản: Môi trường tự nhiên; môi trường nhân tạo/không gian vật chất do con người sáng tạo ra dựa trên căn bản các tài nguyên thiên nhiên và môi trường văn hóa - xã hội.

Từ định nghĩa trên ta lại thấy, di sản văn hóa hàm chứa trong bản thân nó cả 3 hợp phần nêu trên là: Nơi chúng ta cùng chung sống (ăn ở, đi lại, sản xuất v.v...) - văn hóa vật thể; cách chúng ta sống, thái độ ứng xử của chúng ta với thiên nhiên cũng như cộng đồng với nhau và với chính bản thân mình - văn hóa phi vật thể. Và cuối cùng là môi trường cảnh quan thiên nhiên bao quanh ta và bao quanh di tích.

Khái niệm di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh lại bao hàm: các hạng mục kiến trúc (phần vỏ kiến trúc hay không gian vật chất cùng các đồ dùng gia dụng hay đồ thờ tự có trong nội thất công trình kiến trúc...); môi trường thiên nhiên, môi trường sinh thái và môi trường kiến trúc bao quanh di tích. Cuối cùng là môi trường văn hóa - xã hội/ văn hóa phi vật thể song hành cùng di tích, hàm chứa trong nội tại di sản văn hóa.

Từ đặc trưng phân tích ở trên đặt ra yêu cầu bảo tồn di sản văn hóa phải gắn với bảo vệ môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội tạo những điều kiện tối cần thiết cho sự tồn tại lâu dài của di sản và cao hơn nữa phải tạo nên sự hấp dẫn thẩm mỹ/vẻ đẹp hài hòa của di sản.

2. Môi trường văn hóa - xã hội là một bộ phận cấu thành quan trọng của di sản văn hóa
Chúng ta biết, khái niệm di sản văn hóa nói chung, khái niệm di tích lịch sử, văn hóa nói riêng là "khái niệm động và mở" liên tục thay đổi và bổ sung trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của loài người. Thoạt tiên, di tích được quan niệm chỉ là các địa điểm tách biệt, các công trình kiến trúc đơn lẻ. Tiếp theo, khái niệm mở rộng thành các quần thể di tích, kiến trúc, một phức hợp các khu phố cổ, một trung tâm lịch sử của một đô thị hoặc cả một đô thị cổ.

Ngày nay di sản văn hóa được quan niệm là bộ phận cấu thành môi trường sống của nhân loại vì bản thân nó là môi trường văn hóa - xã hội/"thiên nhiên thứ hai" do con người sáng tạo ra. Như vậy lãnh thổ quốc gia/không gian sinh tồn của 54 dân tộc Việt Nam và hệ thống đô thị và các địa điểm cư dân trong cả nước là những đại diện tiêu biểu điển hình nhất cho kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Bởi vì không gian lãnh thổ quốc gia bao chứa trong lòng nó tất cả các loại hình di sản văn hóa còn lại, trong số đó có môi trường văn hóa – xã hội do con người tạo lập ra.

Luật Di sản văn hóa định nghĩa: "Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam". Như vậy chúng ta có 3 tiêu chí cơ bản để nhận diện di sản văn hóa.
- Sản phẩm do con người sáng tạo ra và được coi là “thiên nhiên thứ hai”
- Có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
- Được lưu truyền qua nhiều thế hệ tức là đã được thử thách kiểm nghiệm sự đắc dụng, được chọn lọc, “trưng cất” thành tinh hoa văn hóa.

Định nghĩa trên cũng đặt ra yêu cầu nhận diện di sản từ góc độ các mặt giá trị như:
- Giá trị lịch sử gắn với các sự kiện lịch sử tiêu biểu, nhận vật lịch sử lỗi lạc, danh nhận văn hóa, kiệt xuất của đất nước.
- Giá trị kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu qua các hợp thể thiên nhiên, kiến trúc, điêu khắc, hội họa.
- Giá trị gắn với không gian văn hóa truyền thống – nơi diễn ra các nghi lễ, các sinh hoạt văn hóa cộng đồng/lễ hội truyền thống – bộ phận cấu thành trong môi trường xã hội của di sản.

Mặt khác, vai trò của môi trường văn hóa – xã hội trong di sản văn hóa còn được xác định/thể hiện qua các mục tiêu cụ thể đặt ra cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị.

Trước hết bảo tồn di sản văn hóa cần góp phần xây dựng môi trường xã hội Việt Nam lành mạnh và có văn hóa/yếu tố quan trọng hàng đầu trong phát triển bền vững.

Thứ hai, bảo tồn di sản văn hóa nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả chứng năng nhận thức và giáo dục của văn hóa, đáp ứng yêu cầu xây dựng và vun đắp tư tưởng, đạo đức, lối sống nhân văn và đào tạo nguồn nhân lực có trí tuệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Cuối cùng, bảo tồn di sản văn hóa là giữ gìn, truyền dạy và chuyển giao các giá trị văn hóa truyền thống, cung cấp cho xã hội những kiến thức, kinh nghiệm thực tế và bài học lịch sử có ích giúp chúng ta hiểu được quá khứ, nhìn nhận đúng thực tại để xác định xu thế phát triển cho tương lai.

Đó là lý do vì sao trong năm lĩnh vực hoạt đông văn hóa cơ bản (tư tưởng, đạo đức, lối sống, đời sống văn hóa; di sản văn hóa; văn học, nghệ thuật; giao lưu văn hóa thế giới; thể chế và thiết chế văn hóa) đặt ra trong chiến lược văn hóa đến năm 2020 ( được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2009) Đảng và Nhà nước nhấn mạnh việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc là nhiệm vụ then chốt của chiến lược phát triển văn hóa.

Nhìn tổng quát, môi trường xã hội chính là tổng thể các mối quan hệ xã hội được thiết lập giữa các cá nhân với nhau cũng như giữa các cá nhân với cộng đồng. Môi trường xã hội được tiếp cận ở nhiều cấp độ khác nhau từ vĩ mô đến vi mô: nhân loại, quốc gia, các địa phương, các tổ chức xã hội, tổ chức tôn giáo, dòng họ, gia đình và cá nhân. Môi trường xã hội được biểu hiện cụ thể dưới dạng: pháp luật, thể chế, cam kết, quy định, định ước, phong tục tập quán với tư cách là các tiêu chí định hướng hoạt động cho cá nhân và cộng đồng, công cụ để phân biệt đúng/sai, tốt/xấu. Từ góc độ một di sản hay một di tích thì môi trường xã hội lại được xác định bởi không gian văn hóa mà ở đó các cá nhân và cộng đồng thực hành các hoạt động văn hóa ở các lĩnh vực cơ bản đã được nêu ra trong chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020.

Môi trường xã hội là không gian văn hóa do con người sáng tạo ra, lấy con người là trung tâm, con người tham gia và chi phối môi trường đó. Ngược lại, một môi trường xã hội lành mạnh ở tất cả các lĩnh vực, chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, thể thao…. Sẽ tạo động lực sáng tạo cho con người, giúp cho con người cảm nhận hạnh phúc là được làm người, hưởng các quyền con người (quyền sống, làm việc, cống hiến, hưởng thụ và mưu cầu hạnh phúc).

Qua những nội dung phân tích ở trên có thể tạm đưa ra một nhận xét tổng quan là: môi trường xã hội – nhân văn là một bộ phận cấu thành quan trọng cùng với môi trường tự nhiên tạo nên môi trường sống của nhân loại, trong đó di sản văn hóa cũng là một bộ phân hợp thành. Từ đó suy ra, di sản văn hóa luôn phải bắt rễ vào cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Và do đó có thể khẳng định, môi trường văn hóa – xã hội bao quanh di sản tất yếu phải đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách, điều chỉnh hành vi, nhận thức cho cá nhân và cộng đồng xã hội về thái độ ứng xử có văn hóa đối với môi trường sống của con người nói chung và đối với di sản văn hóa nói riêng.

PGS. TS Đặng Văn Bài

Tin liên quan