Tầm nhìn

Công trình xanh : Quản lý công trình xanh tại các khách sạn và khu nghỉ dưỡng.

06:12, 11 Tháng Bảy 2012

(DSX)- Ngay từ đầu thế kỷ này, hàng loạt các báo cáo từ các tổ chức khoa học uy tín trên thế giới đã cảnh báo tất cả các quốc gia về các hiểm họa môi trường mà con người sẽ phải đối mặt mà nguyên nhân chính là từ các hoạt động phá hoại môi trường của con người.

Ảnh minh họa những công trình cây xanh được trồng trên mái nhà ở Ức

Trước những thách thức đó, hoạt động bảo vệ môi trường và ý thức bảo vệ môi trường ngày càng được đề cao trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, mà điển hình là ngành du lịch và dịch vụ. Những hình thức “du lịch sinh thái” ngày nay đã không còn xa lạ và ngày cả bản thân các cơ sở lưu trú cũng ngày càng trở nên xanh và gần gũi với thiên nhiên hơn để thu hút khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới. Các khách sạn và khu nghỉ dưỡng tại Việt Nam cũng không là ngoại lệ, ngày càng có nhiều cơ sở lưu trú được xây dựng và vận hành theo tiêu chí tiết kiệm năng lượng, hay theo các tiêu chuẩn trong nước và quốc tế. Trong xu hướng đó, bài tham luận mong muốn giới thiệu về các tiêu chí về công trình xanh và những lợi ích mà chúng đem lại cho các khách sạn và khu nghỉ dưỡng tại Việt Nam.

Công trình xanh là gì?

Từ những năm 1930 cho đến những năm 1960, các phát minh ra hệ thống điều hòa không khí và kính phản xạ đã biến đổi phong cách thiết kế công trình. Từ đó các tòa nhà phụ thuộc hoàn toàn vào các hệ thống tiêu tốn điện được sản xuất từ nguồn hóa thạch rẻ trở nên phố biến. Sau đó, vào thập kỷ 70 đã có những nhóm kiến trúc sư cũng như những nhà hoạt động môi trường tiên phong đưa ra những ý tưởng và định nghĩa ban đầu về công trình xanh trong bối cảnh giá năng lượng hóa thạch tăng cao và ngày càng nhiều người quan tâm tới môi trường tự nhiên bị hủy hoại nhanh chóng. Đặc biệt, khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 đã có tác động thúc đẩy lớn trong việc mở rộng nghiên cứu về công trình xanh. Nhờ quá trình nghiên cứu đó, cho tới nay chúng ta đã có một khái niệm tương đối hoàn chỉnh về công trình xanh.

Công trình xanh được định nghĩa là các công trình được thiết kế và xây dựng hiệu quả nhằm đảm bảo sức khỏe và tiện nghi cho người sử dụng trong khi đó vẫn giảm thiểu sử dụng tài nguyên và nhwgnx tác hại không tốt đến môi trường (Kibert, 2008). Để tạo ra được một công trình xanh với hiệu năng môi trường cao, người thiết kế sẽ phải xem xét tới nhiều mặt của công trình như đảm bảo hiệu quả cao trong sử dụng năng lượng, nước và vật liệu, giảm thiểu mức xả thải và ảnh hưởng không tốt tới môi trường và cộng đồng xung quanh, đảm bảo môi trường sống tốt cho người sử dụng công trình.

Với định nghĩa như trên một công trình xanh thường được thiết kế và vận hành theo các tiêu chí sau:

-       Giảm thiểu sử dụng tài nguyên thiên nhiên (giảm sử dụng năng lượng, nước, vật liệu);

-       Giảm thiểu ảnh hưởng tới môi trường thiên nhiên xung quanh (không nhân rộng diện tích đất xây dựng, giảm thiểu xả thải ra môi trường);

-       Bảo vệ môi trường sống an toàn và tiện nghi cho người sử dụng;

-       Mang lại lợi ích cho các cộng đồng xung quanh

Các lợi ích của công trình xanh

Đối với các cơ sở lưu trú du lịch, lợi ích quảng bá kinh doanh của một chứng chỉ xanh được thể hiện rất rõ ràng. Theo tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourism Organisation), du lịch sinh thái hay các hình thức du lịch “xanh” thân thiện với môi trường là thị trường phát triển nhanh nhất trong ngành du lịch với mức tăng trưởng 5% trên toàn thế giới. Đồng thời mới đây Hội Du lịch Sinh thái Thế giới đã tổng kết rằng “hơn hai phần ba lượng khách du lịch từ Mỹ và Úc và 90% lượng khách du lịch từ từ Anh coi việc chủ động bảo vệ môi trường và hỗ trợ cộng đồng địa phương là một phần trách nhiệm của một khách sạn”. Từ các ví dụ trên, có thể thấy rất rõ rằng ý thức của khách du lịch về các vấn đề môi trường và sự cấp thiết của các hoạt động bảo vệ môi trường đã được nâng cao. Khách du lịch không những muốn tham gia các hoạt động du lịch được quản lý tốt và thân thiện tới môi trường mà còn đòi hỏi bản thân các cơ sở lưu trú du lịch phải được xây dựng và quản lý một cách bền vừng. Thậm chí tại nhiều quốc gia, chính các chính phủ và cả những tập đoàn, công ty lớn đã đưa ra những cam kết xanh, như chỉ tổ chức hội nghị hoặc cho nhân viên ở tại những cơ sở lưu trú du lịch đạt chứng chỉ xanh.

Tuy nhiên ngoài lợi ích quảng bá khi đón đầu xu hướng xanh, các cơ sở lưu trú du lịch đạt chứng chỉ xanh còn đã và đang hưởng nhiều lợi ích thiết thực do các công trình xanh mang lại/

Lợi ích môi trường

Khi nói tới các cơ sở lưu trú du lịch là công trình xanh thì lợi ích bảo vệ môi trường và đóng góp cào phát triển bền vững là những lợi ích chìm. Tuy vậy các nhà đầu tư thường coi nhẹ các lợi ích này do chúng không đóng góp trực tiếp vào lợi nhuận của họ. Thực tế đã chứng minh rằng lợi ích cùa các cơ sở lưu trú du lịch phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng môi trường và xây dựng tại các điểm du lịch. Một ví dụ điển hình là Đà Lạt. Những địa danh là một phần của thương hiệu du lịch Đà Lạt như hồ Đa Thiện, thung lũng Tình Yêu hay hồ Than Thở, thác Cam Ly  có nguy co biến mất bởi nạn khai thác du lịch không bền vững và vắt kiệt tài nguyên. Điều này đã khiển Đà Lạt trở nên ô nhiễm mà các công trình mới xây dựng do không được quy hoạch tốt đã phần nào phá vỡ cảnh quan đặc trưng nơi đây. Các tác động này dẫn đến việc giá trị của du lịch Đà Lạt đang bị suy giảm mạnh, đánh mất thương hiệu du lịch đã xây dựng được. Hiện nay nhiều du khách trong và ngoài nước đến đây chỉ còn ấn tượng về khí hậu mát mẻ so với những địa danh khác trên cả nước chứ không còn một Đà Lạt thơ mộng như xưa (Momre, 2012). Như vậy, các nhà đầu tư có tầm nhìn xa cần nhận thức rõ rằng việc bảo vệ môi trường là một hoạt động thiết thực giúp bảo vệ lợi ích của chính họ về lâu dài.

Lợi ích về tài chính

Các công trình xanh có thể đưa lại những lợi ích đáng kể từ việc tiết kiệm các chi phí đầu vào trong xây dựng và vận hành của một cơ sở lưu trú du lịch. Một số các nghiên cứu dựa trên các công trình đạt tiêu chuẩn đánh giá công trình xanh của Mỹ đã đưa ra những con số tiết kiệm sau:

Trung bình các công trình xanh có hiệu quả sử dụng điện và các dạng năng lượng khác cao hơn từ 25-30% nhờ các thiết kế thụ động và thông minh để tận dụng tối đa các nguồn năng lượng tự nhiên như gió để giảm nhu cầu sử dụng điều hòa không khí (vốn chiếm 60% tổng tiêu thụ) và ánh sáng mặt trới nhằm giảm nhu cầu chiếu sáng (8% tổng tiêu thụ). Các thiết kế thông minh này kết hợp với việc sử dụng các thiết bị có hiệu suất cao sẽ giúp giảm lượng tiêu thụ điện đáng kể cũng như chi phí năng lượng của cơ sở du lịch trong nhiều năm. Không những tiêu tốn ít năng lượng hơn, các công trình xanh còn giúp làm giảm lượng tiêu thụ điện cao điểm, từ đó giảm chi phí cho chủ công trình cũng như giảm gánh nặng lên mạng lưới điện cơ sở.  

  • Giảm 30-50% lượng tiêu thụ nước sạch nhờ sử dụng các thiết bị vệ sinh tiết kiệm nước đồng thời tận dụng các nguồn nước mưa hay các nguồn nước xám (nước đã được sử dụng nhưng chưa bị ô nhiễm bởi rác thải hữu cơ hay chất thải từ người hay xúc vật).
  •  Giảm 50-90% lượng xả thải trong toàn bộ vòng đời của công trình, từ khi xây dựng đến quá trình đưa vào hoạt động nhờ việc sử dụng các vật liệu bền vững, vật liệu tái chế có khả năng tái chế cao cũng như các thiết kế và chính sách thông minh giúp giảm thiểu nhu cầu sử dụng.
  •  Giảm tới 35% phát thải khí nhà kính nhờ việc tiết kiệm triệt để nhu cầu sử dụng tài nguyên và nhiên liệu. Thêm vào đó các phát thải còn được giảm thiểu qua các Phương án như rút ngắn quãng đường chuyên trở hay sử dụng các phương tiện không phát thải. (Capital E 2003)
  •  Mặc dù các thông số của nghiên cứu trên được đúc rút từ kinh nghiệm tại Mỹ các nghiên cứu tương tự tại các nước trong khu vực cũng đã đưa ra những con số tương tự và chứng minh lợi ích lâu dài của một số công trình xanh.

Lợi ích về tiện nghi và đảm bảo sức khỏe cho người sử dụng

Các công trình xanh không những bảo vệ môi trường và mang lại lợi ích kinh tế cho các chủ đầu tư, chúng còn magn lại nhiều tiện nghi cho những người sử dụng công trình, một yếu tố không kém phần quan trọng trong bài toán lợi nhuận của các cơ sở lưu trú du lịch.

Thông thường, các chi phí phát sinh do môi trường không vệ sinh hay thiếu tiện nghi trong bản thân các cơ sở lưu trú du lịch khó có thể được tính toán cụ thể, thậm chí không được đưa vào danh mục chi phí do thiếu các mốc so sánh để định giá. Tuy vậy, không thể phủ nhận rằng trong trường hợp cơ sở lưu trú không đảm bảo tiện nghi trong công trình tốt, không những bản thân các nhân viên của cơ sở sẽ làm việc không hiệu quả mà các khách du lịch cũng sẽ không hài lòng về chất lượng dịch vụ của cơ sở nói chung. Từ đó uy tín của cơ sở lưu trú du lịch sẽ bị ảnh hưởng, kéo theo việc suy giảm doanh thu.

Một số nguyên nhân gây ảnh hưởng đến mức độ tiện nghi trong khuôn viên một cơ sở lưu trú du lịch là mức độ chiếu sáng, đặc biệt là mức độ chiếu sáng, đặc biệt là mức độ chiếu sáng tự nhiên và tầm nhìn ra không gian xung quanh. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định rằng ánh sáng tự nhiên có ảnh hưởng lớn tới đồng hố sinh học và tâm lý con người. Nếu không được tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên đầy đủ, đồng hồ sinh học sẽ không hoạt động chính xác dẫn đến bệnh mất ngủ hay thậm chí trầm cảm. Ở mức độ nhẹ, nó sẽ gây trang thái không thoải mái và ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý, thái độ của con người (Boyce, P, 2003). Ngoài ra một nghiên cứu khác của Canada đã khẳng định rằng tầm nhìn ra xugn quanh góp phần đáng kể vào mức độ hài lòng của người ở với công trình (National Research Council Canada, 2011). Một yếu tố không kém phần quan trọng là tiện nghi tiếng ồn. Tiếng ồn có thể tới từ bên ngoài (công trường, đường giao thông, …) hoặc bên trong công trình (từ các thiết bị, nhân viên, hoạt động trong cơ sở…) nhưng nói chung đều có ảnh hưởng xấu đến mức độ hài lòng của khách du lịch. Ngoài ra, tiếng ồn còn phá vỡ giấc ngủ, gây mệt mỏi và tăng mức độ khó chiu, cáu giận của khách (Niemann & Maschke, 2004). Cuối cùng, yếu tố có ảnh hưởng quan trọng nhất đến mức độ hài lòng của khách du lịch chính là tiện nghi nhiệt. Nếu tiện nghi nhiệt không được đảm bảo (quá nóng hoặc quá lạnh), không những khách du lịch sẽ phàn nàn về chất lượng dịch vụ mà trong nhiều trường hợp còn khiếu nại hoặc đổi cơ sở lưu trú nếu sức khỏe bị ảnh hưởng. Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của cơ sở.

Trong hoàn cảnh đó, một công trinh xanh được thiết kế tính đến vấn đề sức khỏe và tiện nghi của người sử dụng sẽ là một giải pháp tốt thông qua việc:

  • Tăng chất lượng chiếu sáng, đặc biệt là tăng cường chiếu sáng tự nhiên cũng như tầm nhìn ra cảnh quan xung quanh trong khi vẫn hạ chế lượng bức xạ nhiệt vào công trình do sử dụng các kết cấu che nắng, các giải pháp dẫn ánh sáng tán xạ và hạn chế trực xạ.
  • Giảm tiếng ồn nhờ thiết kế và sắp xếp các phòng trong công trinh hợp lý trong khi kết hợp với các vật liệu cách âm và các thiết bị không gây ồn cũng như được bảo dưỡng tốt
  • Tăng cường tiện nghi nhiệt nhờ tăng cường thông gió tự nhiên, giảm bức xạ nhiệt nhờ hệ thống che nắng tốt và sử dụng các hệ thống điều hòa hiệu quả.

Rào cản trong việc nhân rộng mô hình công trình xanh

Mặc dù các lợi ích mà công trình xanh mang lại đã được khẳng định, nhiều nhà đầu tư còn e ngại trướng vấn đề chi phí đầu tư cao của các công trình xanh. Các chủ đầu tư thường có định kiến về công trình xanh là những công trình đòi hỏi chi phí đầu tư cao hơn rất nhiều công trình bình thường mà không có một con số cụ thể nào về khoản phụ trội đó. Chính vì thiếu các thông tin này mà nhiều chủ đầu tư đã chọn không xây dựng công trình xanh do không thể xác định rõ liệu đầu tư có sinh lời và thời gian hòa vốn là bao lâu.

Theo tính toán dựa trên các công trình xanh đã được xây dựng, trung bình để xây dựng một công trình xanh sẽ cần tới chi phí đầu tư cao hơn một công trình tiêu chuẩn trên thị trường là 2% (Capital E, 2003). Phần lớn chi phí này phát sinh do thời gian và công việc thiết kế nhiều hơn, thêm vào đó là chi phí xây dựng mô hình trên phần mềm và thời gian để kết hợp các giải pháp vào công trình. Tuy nhiên chi phí đầu tư sẽ nhanh chóng được bù đắp do công trình xanh thường cần ít chi phí cho vận hành hơn một công trình tiêu chuẩn (Langdon, 2004). Như vậy nếu xem xét vòng đời của các côn gtrinhf cơ sở lưu trú du lịch theo phương pháp “phân tích chi phí vòng đời – Life cycle cost analysis”, trong đó mọi chi phí đầu tư xây dựng, vận hành, bảo dưỡng đều được tính đến thì các công trình xanh sẽ cần chi phí ít hơn rất nhiều một công trình tiêu chuẩn (King Country 2006).

Không những thế, thời gian hoàn vốn của các công trình xanh cũng có thể diễn ra khá nhanh tùy theo giải pháp “xanh” mà công trình đó lựa chọn. Với những giải pháp thiết kế thụ động ít tốn kém hoặc những giải pháp chiếu sáng hiệu quả, công trình có thể hoàn vốn đầu tư chỉ trong vòng 2 năm, nhất là với tình hình giá điện và xăng dầu ngày càng tăng cao. Với những giải pháp tốn kém hơn thì thời gian hoàn vốn có thể thăng lên nhưng trung bình các công trình xanh hiện nay cần khoảng từ 3  đến 5 năm để hoàn vốn và bắt đầu đưa lại lợi nhuận (Engene, 2010).

Những rào cản này đòi hỏi chủ đầu tư cân phải có tầm nhìn và chiến lược lâu dài cho cơ sở lưu trú du lịch của mình. Tuy nhiên với việc các dịch vụ cơ bản như điện, nước ngày càng tăng giá cùng với ý thức bảo vệ môi trường của khách du lịch nâng cao, các công trình xanh có khả năng mang lại hiệu quả và lợi nhuận lâu dài cho các chủ công trình.

Kết luận

Mặc dù phát triển công trình xanh còn rất mới mẻ tại Việt Nam, hiện tại là thời điểm thích hợp để nắm bắt xu hướng này nhằm đáp ứng tốt hơn đòi hỏi mới của khách du lịch cũng như góp phần bảo vệ môi trường du lịch cho Việt Nam và đưa lại lợi ích lâu dài cho bản thân cơ sở lưu trú du lịch.

Tác giả: Đỗ Ngọc Diệp – Hội đồng Công trình xanh Việt Nam

Tin liên quan